LỊCH SỬ KHOA TỬ VI 

LỊCH SỬ KHOA TỬ VI 

I.- Thư tịch về khoa Tử-vi
Khoa Tử-vi bắt nguồn từ thời điểm nào ? Ai là người khai sáng nó, cho đến cuốn sách này không được ghi lại. Các Tử-vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán Tử-vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến lúc này, lịch sử khoa này vần còn bỏ sót. Thảo nguyên có người còn cao khoa Tử-vi với những câu chuyện truyền kỳ quái quái ma rắn rắn đầy hoang đường của tiểu thuyết Phong-thần hoặc Tây du ký và nói rằng: Khoa Tử-vi do một ông tiên tên Trần Đoàn đặt ra, và Trần Đoàn Lão tổ là một Tiên ông trường sinh bất lão, có tài hô phong vũ vũ, được phép nhiệm vụ. Nhiều vị trí còn lại của Tổ Đoàn Thanh niên. Khi xem số cho thân chủ còn mộc hương khấn vái, để lão linh ứng cho một que, thật là nhảm nhí và vô lý hết sức.
Kể từ khi khoa Tử-vi đạt được sử dụng vào niên hiệu Càn-đức nguyên niên, đời vua Thái-tổ nhà Tống (863), cho đến nay trên một ngàn năm chưa có sử gia nào chép về lịch sử cả. Trên đường nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy một số thư rác rải rác sau đây,biên tập sơ đồ về khoa học này. Tôn trọng đúng nguyên tắc sử gia Đông phương, những gì nghi ngờ thì để nguyên, mà cổ nhân gọi là nghi truyền nghi.

1.- Tử-vi chính nghĩa
Bộ này do Hy Di tiên sinh truyền cho Tống thái-tổ là Triệu Khuông Dẫn. Bản thân chúng tôi là bản sao của Hoa-yên. Bản này được bảo tàng tại Quốc sử quán triều Nguyên, năm 1955 trong một cuộc đời chính cô gái Quốc trưởng Bảo-Đại chúng tôi sưu tầm được.

2.- Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh
Chúng tôi có hai bản. Sao chép phương tiện truyền thông tay cũng như sao chép bản chính của tự động Hoa-Yên.
Một bản nữa của Cẩm-chướng thư địa Thượng-Hải ấn hành năm 1921. Hai bản không khác nhau là bao. By the root of this book is bộ Tử-vi chính nghĩa. Sau khi được Hy Di tiên sinh truyền cho, Triệu Khuông Dẫn và con cháu nhà Tống nghiên cứu rộng ra mới đặt cho một tên mới là Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh. Có nghĩa là họ Triệu giải giải rõ ràng về bộ Tử-vi kinh. Bộ này được Hoàng Bính truyền sang Việt Nam vào niên hiệu Nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257), Hoa-yên tự sao chép và lưu truyền tới ngày nay.

3.- Đông-a di sự
Bộ này không phải là bộ nghiên cứu về Tử-vi, mà là bộ chép các thuật thuật đời Trần, trong đó có phần chép về Tử-vi. Bộ ba người liên tiếp được chép là Huệ Túc phu nhân của Trần Thái Tông; Đoàn Nhữ Hài, một vị Tể tướng đời Trần, học trò của Huệ Túc; Trần Nguyên Đán, một vị bác học cuối đời Trần.
Bản chúng tôi là bản do Trần Nguyên Đán khắc bản khắc năm 1388.

4.- Tử-vi đại toàn
Bộ này do các văn thần nhà Thanh nghiên cứu, tổng hợp hết các sách cổ kim về Tử-vi, chép lại. Đây không phải là bộ biên dịch, nghiên cứu mà chỉ là bộ sao chép lại mà thôi. Bản chúng tôi là bản sao, đề tài Cẩm-Chướng thư địa Thượng Hải xuất bản năm 1921.

5.- Tử-vi đẩu số toàn thư
Do La Hồng Tiên biên soạn rất giản lược, nhưng giống bộ Tử-vi chính nghĩa. Có thể nói đây là bộ Tử-vi chính nghĩa yếu lược. Bộ sản phẩm này do Cẩm Chướng địa phương xuất bản năm 1921 tại Thượng Hải. Sau này ông Vũ Tài Lục có dịch nhưng một phần rất ngắn và không có chú thích. La Hồng Tiên sống vào đời Minh.

Trên đây là 5 bộ Tử-vi được coi là chính thư hay do chính phái biên tập. Ngoài ra còn một số bộ dưới đây bị coi là thùng thư, tá phái nhưng chúng tôi vẫn nghiên cứu đầy đủ.

6.- Tử-vi Âm-dương chính nghĩa
Bộ này do Lã Ngọc Thiềm và các tử tử-vi gia thuộc Bắc phái biên tập, nên thường thêm chữ Bắc-tông để phân biệt với Nam-tông. Bản thân chúng tôi đã được sao chép.

7.- Tử-vi âm-dương chính nghĩa
Do Ma-y biên soạn vào đời Tống, sau được các Tử-vi gia thuộc Nam-ohai bổ túc sửa đổi, nên thường thêm chữ Nam-tông để phân biệt với Bắc-tông. Bộ này khắc bản vào đời Thanh triều Khang-Hy, nhưng chưa rõ năm nào.

8.- Tử-vi thiển thuyết
Bộ tổng luận về Tử-vi đô Lưu Bá Ôn, một đại thần khai quốc nhà Minh biên soạn. Bản chuúng tôi có lẽ là bản khắc vào đời Thanh triều Khang Hy, nhưng chưa rõ năm nào.

9.- Lịch số tử-vi toàn thư
Bộ này do Hứa Quang Hy đời Minh biên soạn. Bản thân chúng tôi đã được sao chép. Ngoài ra chúng tôi đã thu thập được khoảng trên hai mươi bộ sách khác, nhưng Sản phẩm trung mô các bộ sách ở đây cả nên không bàn tới.

II.- Nguồn gốc khoa Tử-vi
Về nguồn gốc khoa Tử-vi thì bộ Tử-vi kinh Hình tử Tử-vi chính nghĩa, phần Hy Di tiên sinh truyện viết : “Tiên sinh làu thông Dịch-lý, Thiên-văn,-tượng, Lịch-số, Địa-lý. Nhân tìm thấy các khoa đều có uyên nguyên với số mạng nhân sinh, do đó khải ngộ, ra bộ Tử-vi kinh truyền cho thái-tổ nhà ta.” Vì vậy nguồn gốc khoa Tử-vi, có thể kết luận rằng, đặt cơ sở trên :
– Học thuyết âm-dương ngũ hành của Dịch-lý.
– Từ Thiên-văn học, với những biến chuyển của tinh đẩu.
– Từ Hình tượng học, học khoa nghiên cứu về hình vũ trụ, con người và thú vật.
– Từ Lịch-số, học khoa nghiên cứu từ Thiên-văn, để tính sự kiện tuần hoàn vũ trụ, tính ngày, tháng, năm.
– Địa lý, tức Phong-thủy, nghiên cứu về con người tương ứng với địa phương hướng nhà khí hậu vv….
1.- Tiểu sử Hi-Di tiên sinh
Tiên sinh họ Trần húy Đoàn tự Hy-Di, người đất Hoa-sơn, ngày nay về phía Nam huyện Hoa-âm Tỉnh Thiểm-Tây. Khi ra đời tiên sinh được sinh non tháng, nên mãi hai năm mới biết đi, thuở nhỏ thường đau yếu liên miên. Tiên sinh học văn không thông, học võ không đủ sức, thường xuyên mạnh mẽ theo phụ thân ngao du khắp nơi không cùng thủy tận. Thân phụ tiên sinh là một nhà Thiên-văn, Lịch-số đại tài đương thời. Về năm sinh của sinh viên đầu tiên, không có thư nào được biên dịch. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu Thị Minh Tử-vi kinh, khi tiên sinh kiến ​​kiến ​​Tống Thái-tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Cần-đức nguyên niên có nói : « Ngô kim nhật thất thập hữu dư », nghĩa là, tôi năm nay trên 70 tuổi. Vì vậy có thể lần đầu tiên sinh ra đời vào khoảng 888-893 thời niên hiệu Vạn-đức nguyên niên niên Đường Huy-Tông đến niên hiệu Cảnh-phúc nguyên niên niên Đường Chiêu-Tông. Tiên sinh bắt đầu học Thiên văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh thuật :
” Tiên sinh tám tuổi mà còn thơ dại, lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ.
Một ngày hôm nay thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa trong tháng, được tiên sinh ưu phiền, mới sau tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo :
– Con có thấy sao Tử-vi kia không ?
: – thấy.
Lại chỉ lên sao Thiên-phủ mà hỏi :
– Con có thấy sao Thiên-phủ kia không ?
: -Thấy.
– Vậy thì con hãy hãy xem những sao đi theo sao Tử-vi và Thiên-phủ là bao nhiêu ?
Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh đã xong cũng phải nửa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà tiên sinh đã chạy vào thưa: – Con đếm hết rồi. Đi theo Tử-vi có năm sao, như vậy là Tử-vi có sáu sao. Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa Thiên-văn và Lịch-số.

2.- Truyền cho vua Tống
Giai thoại kỳ thú mà hầu hết các nhà nghiên cứu Tử-vi đều biết, đó là Hi-Di tiên sinh đã dùng khoa Thiên-văn và Tử-vi kỳ vọng trước hai đứa trẻ nghèo đói, sau đều trở thành vua. Bộ Tử-vi chính nghĩa phần Hi-Di liệt truyện đã kể giai thoại bất kỳ thú vị như sau : “Một hôm tiên sinh dẫn đệ tử ra sân xem Thiên-văn, dứt kêu lên rằng :
– Kìa quaí lạ không ?
Đệ tử sinh xúm lại nhìn theo tay tiên tiên thì thấy sao Tử-vi, Thiên-phủ đi vào địa phân của sao Phá-quân và Hóa-kỵ, mà ánh sáng chiếu xuống đất Hoa-s.Tiên sinh noí :
– Tử-vi, Thiên-phủ là đế-tượng, tức là vua. Tử-vi bảo giờ cũng đi trước, Thiên-phủ bảo giờ cũng theo sau. Này là anh em một gia đình nào đó, đang buổi hàn vi, sau sẽ làm sự nghiệp trông vang, vị tới đế vương. Phá-quân là hao-tinh chủ nghèo, Hóa-kỵ chủ bần hàn, kêu xin. link down Hoa-sơn, thì hai vị Thiên-sử sẽ qua đất Hoa-sơn ăn xin. Vậy nên ngày mai những người theo ta xuống núi, giúp cho vị anh hùng vị ngộ, đang gặp lúc cùng khó khăn. Đệ tử thưa :
– Đệ tử nghĩ, nhân lúc thiên-tử chưa thời gian, ta nên cho người vay nợ, để mai đây có thời gian đòi nợ cứu giúp dân nghèo. Tiên sinh đồng ý. hôm nay thầy trò xuống chân núi đã tìm thấy một người chạy loạn đi qua. Tiên sinh để ý đến một thiếu phụ gói hai thứ thú vị, trong mỗi thúng có một đứa trẻ khôi phục ngô quang khác thường. Tiên sinh biết hai đứa trẻ này ứng vào sao Tử, Phủ trên trời đây. Mới hỏi thiếu phụ :
– Bà ơi ! Bà có mệt lắm không ? Bà gánh hai vị Thiên-tử đi đâu vậy ? Thiếu phụ đặt vali xuống thưa :
– Còn tôi đó, các con lớn tên Triệu Khuông Dẫn, các con nhỏ tên Triệu Khuông Nghĩa. Từ sáng đến giờ chúng tôi đói không có gì ăn. Tiên sinh bố thí cho chút đồ ăn được không ? Tiên sinh đáp :
– Tôi xem văn thiên thấy dung quang hai con bà khác phàm. Bà chúng ta có nhớ ngày sinh của mình không? Missing subor for date of the two con. Tiên sinh tính số Tử-vi, cách làm của Khuông Dẫn là Tử, Phủ, Vũ, Tướng được Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc củng chiếu. Ngặt đại hạn đang tìm Kiếp, Kỵ nên nghèo khó. Số của Khuông Nghĩa là Thiên-phủ lâm Tuất, ngộ Tả, Hữu, Khoa, Quyền đại hạn cũng đang gặp Kiếp, Kỵ nên nghèo khó. Tiên sinh nói với học trò :
– Hai đứa trẻ này là chân mạng vương vương, khi đại hạn đi đến gặp Khôi, Việt, Xương, Khúc, là lúc thành đại nghiệp đấy. Ta phải giúp đỡ mới được, hầu mua lấy cảm tình, lúc thiên tử gặp thời, có thể nhân đó giúp dân vậy. Tiên sinh nói với thiếu phụ :
- Tôi tính số thấy hai con bà sau đều làm vua. Khi đã làm vua rồi thì tất cả giang sơn vạn dặm đều của con bà cả. Vậy bà bán cho tôi giải núi Hoa-sơn này lấy tiền mà tiêu. Thiếu phụ tưởng ông đạo sĩ điên cuồng mới mua núi. Bà đồng ý bán. Bybà không biết chữ, nên thắt cà vạt áo hai con cưỡi ngựa, cưỡi trong một ống côn, coi như văn tự trao cho Hy-Di tiên sinh và nhận mười nén vàng. Năm 960, Triệu Khuông Dẫn thống nhất giang sơn, lên ngôi vua lập ra nhà Tống, sau là Tống Thái-Tổ. Niên hiệu Càn-đức nguyên niên (963), quan trấn thủ vùng Hoa-sơn biểu tượng triều triều rằng: Có một đạo sĩ tên Trần Đoàn, tự Hy-Di bảo dưỡng dân chúng họ không nộp thuế. Đạo sĩ nói rằng : Hoa-sơn là đất riêng của ông, đã được nhà vua bán cho rồi. Tống Thái-tổ không nhớ chuyện cũ, nổi giận, sai bắt Hy-Di tiên sinh vào triều trị tội. Nhưng quan địa phương rất kính trọng tiên sinh, không bị trói, còn đưa lừa cho tiên sinh kích thước để lai kinh. Tiên sinh được giải quyết vào kiến ​​trúc. Thái-tổ hỏi :
– Đạo sĩ cũng phải góp theo phép nước chứ ? Hà hào pháo nói rằng đã mua đất của triều đình ? Tiên sinh đáp :
– Năm nay tôi đã trên 70 tuổi đâu bối nói dối. Luật lệ của bệ hạ là : Đời cha mẹ vay nợ, thì đời con phải trả. trước đây Thái-hậu qua Hoa-sơn, có bán cho bần đạo toàn vùng này lấy mười nén vàng. Văn tự còn ở đây. Tiên sinh xuất khẩu ống côn và áo cà vạt. Thái-tổ truyền thông vào hậu tố hỏi Thái hậu. Thái-hậu nhớ chuyện cũ hò kêu lên :
– Vị thần tiên ở núi Hoa-sơn đây mà, người đã cứu nạn cho nhà ta xưa đây. Thái-hậu kể chuyện xưa. Thái-tổ và triều thần kinh sợ về tài tiên tri của tiên sinh, hương thơm lỗi, lưu tiên sinh lại kinh, kính như bậc thầy. Tống Thái-tổ hỏi tiên sinh về khoa Tử vi, tiên sinh rút ra trong tập sách nhỏ đề Tử-vi chính nghĩa trao cho Thái-tổ mà tâu rằng :
– Đây là tất cả những tinh nghĩa về khoa Tử-vi. Bần đạo không phải là người đặt khoa này. Nhân người trước đã nói về Tử-vi, bần đạo nhận thấy Dịch-lý, Hình tượng Thiên văn, Lịch-số, Địa-lý đều có uyên nguyên với nhau, mới dc bỏ những nhanh chóng của người xưa, hội thành tử tử-vi mà thần viết trong tập này. Với khoa Tử-vi, bệ hạ có thể biết kẻ trung, người nịnh, thời điểm nào tốt, thời điểm nào xấu mà lợi đại sự. Đó là học tới bậc sơ cấp. Còn học ác hơn, có thể nhân số mạng xấu, người dùng nào sẽ được cứu nguy hiểm, và cứu như thế nào ? Nhìn thấy ác quỷ thì người dùng nào, bằng cách nào thì sẽ có giá trị, đó là học tới trung đẳng. Còn học tới chỗ uyên nguyên cực cực, có thể làm đảo lộn cả thiên hạ, nắm thiên hạ trong bàn tay. Nhưng bần đạo thần bệ hạ một câu, khi dùng tập sách này, đó là : Chữ Nhân, đừng nên dùng vào những độc độc, thâm âm đức. Tiên sinh được các quan xin coi Tử-vi. Họ chỉ việc biên ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh, tiên sinh sẽ kêu ra vị trí đang giữ chức vụ gì trong triều, cùng sự lập thân ra sao, cuối cùng sự nghiệp sẽ kết thúc như thế nào. Triều thần không ai mà không kính phục.

3.- Cái chết của Hy-Di
Sử Sách không ghi tiên sinh ra đời năm nào, mà cái chết của tiên sinh cũng rất mơ hồ. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh viết : « Niên hiệu Khải-bảo thứ ba (972), Thái-tổ sai sứ đến Hoa-sơn thỉnh tiên sinh, thì đệ tử báo rằng tiên sinh ngao du sơn thủy đã ba năm không thấy trở về.» Sau trên mười năm chưa thấy tiên sinh trở về, đệ tử tiên sinh cho rằng thầy đã quy tiên. Họ họp nhau để lấy người chiếm quyền. Nhưng khi sinh lần đầu sinh gặp ai dạy người đó, chương trình học trò chơi không đều nhau, mà họ không biết nhau nữa. Cuối cùng vì trong mười năm xa sư phụ,mạnh ai người nghiên cứu thành ra khoa Tử-vi có nhiều dị biệt. Các đệ tử của tiên sinh tự ý thu đệ tử, truyền dạy, người có cơ cơ thì dạy hết, người không có cơ cơ thì dạy ít, thành ra khoa Tử-vi trở thành thành một khoa bí hiểm của riêng từng nhà, nhiều nhà còn để làm kế hoạch sinh học, làm như vậy mới có nhiều khác nhau.

IV. Khoa Tử-vi sau Hi-Di

Hi-Di tiên sinh chết không chỉ ai làm chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai ai nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính sách chép lại ở trong hoàng cung, thành ra trong các đệ tử tiên sinh, người được truyền nhiều thì giỏi, người được truyền ít thì song nhưng vẫn tưởng mình được truyền đầy đủ. Năm 1127, quân Kim sử dụng phía Bắc nước Trung-hoa, nhà Tống di cư xuống phía Nam . Khoa Tử-vi cũng theo đó chia làm Bắc-tông với Nam-tông. Bắc-tông thì đúng Hi-Di không sửa đổi gì về các sao, an sao, chỉ nghiên cứu rộng ra ứng dụng tương tự như hoàng gia nhà Tống. Còn Nam phái bị ảnh hưởng bởi khoa dịch nên phải thay đổi rất nhiều :

1.Vòng Thái-tuế

Theo Hi-Di có năm sao là: Thái-tuế, Tang-môn, Bạch-hổ, Điếu-khách, Quan-phù.
Trong khi Nam phái thêm vào bảy sao nữa là: Thiên-không, Thiếu-âm, Tử-phù, Tuế-phá, Long đức, Phúc-đức, Trực-phù.

Vị trí chính của sao Thiên-không thể thay thế bằng sao Địa-không (được thêm ra).

2. dự đoán vận hạn

Theo Hi-Di tiên sinh thì đại hạn thứ nhất bắt đầu từ cung Huỳnh đệ hoặc Phụ mẫu. Trong khi Nam phái đổi là khởi từ cung mệnh. Rồi họ bổ sung thêm những thứ đặc biệt như: Hạnh Tam-tai, hạn Huyết-lộ, hạn Ác-thần, rồi căn cứ vào đó coi mỗi vì sao như một ông thần phải cúng vái trừ tà. Người ta quen gọi Bắc phái là chính phái và Nam phái là phái Hà-Lạc. Đời Nguyên khoa Tử-vi bị cấm chế, bởi dân Trung-hoa đồng hóa tử Tử-vi với nhà Tống, nên Nguyên triều cấm đoán, cũng không có gì lạ. đời đời nhà Minh khoa Tử-vi không có gì đặc sắc, chỉ mô phỏng những điều có từ đời Tống. Đến đời nhà Thanh, vua nhà Thanh thấy rằng: Thầy ông Tử-vi thường được lòng dân chúng. Nhiều ông mượt mạch coi Tử-vi để kích động dân nổi nổi bạo triều đình. Vua Khang-Hy mời các nhà Tử vi danh tiếng về kinh, phong cho mỗi vị một quan để biến các vị thành tôi triều đình. Lại cử một người đứng ra cai quản các vị soạn thảo bộ Tử-vi đại toàn. Bộ này chưa có trong danh sách. Trong dịp bát quốc xâm lăng Trung-hoa, thì Pháp, Nhật mỗi nước lấy được một bản.

V. Tử-vi vào Việt-nam
Có hai thuyết nói về khoa Tử-vi truyền vào Việt Nam.

1.- Thuyết thứ nhất

Nói rằng một nhân viên sứ quân đoàn Đại-Việt thời Lý tên Trần Tự Mai đã được cướp lấy bộ Tử-vi chính nghĩa và bộ Ngự-giám tử-vi, rồi tặng về nước. Nhưng chính Tự-Mai cũng chỉ nghiên cứu rồi truyền cho con cháu. Ghi chú: Từ Trần Tự-Mai đến vua Trần Thái-tông gồm 8 đời. Trần Tự Mai sinh Trần Vỵ Hoàng. Trần Vỵ Hoàng sinh Trần Tự Quang. Trần Tự Quang sinh Trần Tự Kinh. Trần Tự Kinh sinh Trần Tự Lò. Trần Tự Hấp sinh Trần Lý. Trần Lý sinh Trần Thừa. Trần Thừa sinh Trần Liễu, Trần Cảnh tức vua Thái-Tông nhà Trần. Nên sau này Hoàng Bính đem Tử-vi cho vua Trần, thì có cuộc tranh luận về Tử-vi giữa Hoàng Bính với Chiêu Minh vương Trần Quang-Khải và Chiêu-Quốc vương Trần Ích- Tắc.

2.- Thuyết thứ ba

Một truyền thuyết khác nói khoa Tử-vi truyền vào Đại-Việt từ niên hiệu Nguyên-phong thứ bảy đời vua Trần Thái-Tông (1257). Người truyền sang Đại-Việt là tiến sĩ Hoàng Bính. Hoàng Bính sinh vào niên hiệu Gia-thái thứ nhì đời Tống Ninh-Tông (1203), đậu Tiến-sĩ làm Thị độc học sĩ (chức quan đọc sách và giang sách cho vua nghe) thời Tống Lý-Tông. Năm Bảo-hựu nguyên niên (1253), tiên sinh nhân ở chức năng Thị độc học sĩ, nên nghiên cứu, hiểu tường tận các bộ sách Tử-vi chính nghĩa, Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh, tiên sinh nghiên số Tử vi của vua, Hoàng-hậu, các vương thần, khanh sĩ, văn võ đại thần, thì thấy số người cũng cân gia sản, hoặc chết thảm, hoặc gia đình ly. Lúc đầu tiên sinh cho rằng có cuộc thay đổi ngôi vua trong triều, nhưng sau xem đến số lượng của các vị trấn thủ đại thần, cũng đều tương tự cả. Tiên sinh cho rằng đó là vận động nước sắp mất. Tiên sinh lại xem số mình và vợ con đều thấy thân cư Thiên-di, mệnh lập tại Tý, cung Thiên-di ở Ngọ. Tiên sinh mới giải đoán rằng: Tý là phương Bắc, Ngọ là phương Nam, vậy gia đình mình có số lập nghiệp ở phương Nam. Lại xem thiên văn, thấy tất cả các tinh hoa đều tụ cả ở phương Nam , mới bàn với phu nhân rằng: – Ta xem thiên văn thấy phương Nam sáng rực rỡ, tương lai thánh nhân đều xuất hiện ở đó. Nay quân Thát-đát (Mông-cổ) sử dụng gần hết giang sơn rồi, mà triều đình trên thì vua hôn trầm, các quan thì ham mê, lòng dân đã mất, cái vạvong quốc không xa cho lắm. Âu là ta báo quan về hưu, rồi đưa dân tộc xuống phương Nam trốn thoát. Năm 1257, Hoàng Bính mang thuộc hơn ba chiến người, đến biên giới Hoa-Việt, xin được vào đất Đại-Việt làm cư dân. Vua Thái-tông nhà Trần sai người lên tra xét, thấy họ hiệu quả thật tình, không có chi giả dối, mới thuận lợi cho Hoàng Bính sáng nghiệp ở vùng Yên bang. Hoàng Bính dâng người con gái 16 tuổi, nhân sắc diễm lệ, làu thông thi thư và thuật số, Tử-vi tên Hoàng Chu-Linh. Vua Trần Thái-Tông thu nhận, phong làm Huệ-Túc phu nhân ân ái ái.

VI.- Khoa Tử-vi đời Trần

1.- Trường hợp được trọng dụng

Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong một dịp đặc biệt:

Thái-tử Hoảng được bệnh mê man suốt ba ngày rồi mắt hỗ trợ ngược, tưởng qua đời. Vua trả thanh Thượng phương bảo kiếm và áo Ngự bảo để bên viền rồi tuyên chỉ ;

– Nếu tỉnh dậy sẽ cấm cho.
Ý nói sẽ truyền đạt.

Nhưng Thái-tử mắt vẫn hỗ trợ ngược. Hoàng hậu, phi tần khóc thảm thiết bị, chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ-Túc phu nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài. Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của Thái-tử. Phút ấn số, rồi ghi:

Xin Hoàng-hậu đừng lo, Thái-tử chỉ mê man thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ dậy dậy.

Vua và Hoàng-hậu tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân biết? Phú nhân câu:

– Thần tính số Tử-vi của Thái-tử thấy Đồng, Âm thủ mệnh tại Tý. Cung Phúc tại Dần có Cự, Nhật. Tử-vi kinh nói rằng: “Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ, Đô ư phúc trạch cát hung”. Nghĩa là : Giàu, sống lâu, làm lớn, tăm, chết không, đau thương, đau khổ, làm cung phúc tốt hay xấu. Đây cung Phúc của Thái-tử có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hữu, Xương, Khúc hợp chiếu, thì cơ cơ là người thọ lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý… thế thì Thái tử không chết non, sau còn trở thành thành vị minh quân anh hùng, tạo sự nghiệp rạng rỡ cho họ Đông-a và cho nhà Đại-Việt nữa. Hiện Thái-tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp, Hình thì đau yếu nặng đó thôi.

Vua và Hoàng-hậu còn phân vân chờ đến giờ Sử dụng hôm sau, thì Thái-tử tỉnh tăng dần, rồi chắc chắn. Sau là vua Trần Thánh-tông, một vị vua anh hùng trong lịch sử Đại-Việt. Nhân đó vua Thái-tông mới hỏi lý do tại sao phu nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa Tử-vi. Vua Thái-tông triệu Hoàng Bính vào cung, tiên sinh dâng hai bộ sách Tử vi chính nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh. Vua Thái tông và hoàng tộc nhà Trần lại đua nhau nghiên cứu Tử-vi, và dùng như một nguyên tắc để bầu người giúp nước.
2.- Một sự kiện sáng tỏ nhờ Tử-vi

Qua những lá số được Huệ-Túc phu nhân và vương hầu Trần chấm còn lại, ngày nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch sử. Như hiện trong văn học sử, người ta không biết thiên tài sư đạo Tuệ-Trung thượng sĩ đời Trần, bản sư của Trần Nhân-tông là Trần Quốc Tung, anh rỗng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vương phong Hưng-Ninh vương hay là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo vương?

Căn cứ vào lá số của Huệ-Túc phu nhân, người sống đồng thời với Hưng Ninh vương, lại là thím của quý, là sư phụ của quý vị về khoa Tử-vi, thì những gì phu nhân viết về quý vị phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại là người tích cực tiến cử Hưng Đạo Vương giữ chức vụ Tiết- chế binh mã, tức là Tổng tư lệnh quân đội, thì chắc chắn tình cảm thím cháu, vua tôi, thầy trò, phu nhân viết về gia đình Hưng Ninh Vương, Hưng Đạo vương không sai. Phú nhân chấm số cho Hưng-Ninh vương có phê sau:

“… Kinh vân Tử, Tham, Mão Dậu đa vi thoát tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến ​​Tuệ Trung chi số: Tử, Tham ư Dậu ngộ Quyền, Đào, tuấn nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa tài, đa năng. Đãn hiềm Tử, Tham cư Dậu Không, Kî tất cả vi tăng”.

Nghĩa là sách Tử-vi kinh nói rằng: người mệnh lập tại Dậu hay Mão, mà có Tử-vi, Tham lang thủ mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta xem số của Tuệ Trung thì thấy mệnh lập tại Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh, còn gặp Đào-hoa, Hóa-quyền thì là người đẹp khéo. Được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài, đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số và mệnh lập tại Dậu, Tử-vi, Tham-lang thủ mệnh,gặp Thiên-không, Hóa-kỵ thì thế nào cũng đi tu.”

Từ sự kiện trên ta tìm được Tuệ Trung thượng sĩ là Hưng-Ninh vương Trần Quốc Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng.

3.- Phá cách, hỗ trợ cách

Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử-vi đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở Trung-quốc, đó là Khám phá và Trợ giúp. Câu chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng hứng. Nếu Tống Thái-tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu không được, thì vua Trần Nhân-Tông biết Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát.

Câu chuyện như sau:

Đoàn Nhữ Hài là học trò chơi trường Quốc-tử giám ở Thăng-long. Năm 20 tuổi, hài hước chuẩn bị cho thi Thái-học sinh (tiến sĩ), muốn được thi Thái học sinh thì Hài phải qua một số tài liệu của trường trước, nếu thấy khá thì mới được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên hựu (chùa Một-cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn trời, Hài hỏi:

– Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng người tu hành có thể biết được vận vũ số sau này sẽ ra sao, có đúng không?

Hòa thượng hỏi:

– Tiên sinh muốn biết điều gì?

– Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho tương lai.

Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của Hài rồi nói:

– Số của tiên sinh là số tá cửu trùng kim điện, nghĩa là số phò tá vua ở sân rồng, tức là số làm tới con tướng. Mệnh lập tại Mùi, Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài, đa năng. Tử-vi kinh nói, Tả-phụ, Hữu-bật tính giải khoan, khắc hậu nên tính tình từ giá, hành sự cẩn thận. Cái cách Nhật tại Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật, nguyệt sạch minh, nên sớm gặp minh quân. Nhưng tiên sinh lại có một cách rất xấu Đào-hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình, thì tất cả thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc, đáng tiếc.

Vui mừng lắm về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi bổ sung của trường Quốc-tử giám đốc, Hài bị trượt vì văn ngôn ngữ, kênh kiệu quá. Hài giận lắm, tìm vị hòa thượng hỏi:

– ngày trước đại sư mong đợi rằng sau này tôi sẽ làm Tể-tướng, thế sao tôi thi slide? Không đậu thì làm sao thi Thái-học sinh được? Không đậu Thái-học sinh thì sao có thể làm Tể-tướng?

Vị Hòa-thượng cười đáp:

– Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu Tể-tướng mà không đậu đại khoa? Cần tăng kỳ vọng tiên sinh làm Tể-tướng, chứ có kỳ vọng tiên sinh thi đậu đâu? Năm nay tiểu hạn tiên sinh cung Dậu được Thái-dương miếu địa, Hóa-khoa từ Mão chiếu sang thì thanh vân đắc lộ gặp được thiên-nhạn. Nhưng đại hạn đóng ở cung Tỵ. Thiên-mã gặp Đà-la tức là ngựa què. Ngựa đã què lại còn đi đến cung Dậu Tuần thì ngựa bịt cụt chân. Vậy nên khi nào tiên sinh gặp ngưu hoặc đá là lúc gặp vua, nhưng tiên sinh nhớ một điều: Khi được gặp vua, nếu hoàng-thượng ban thưởng cho bao nhiêu vàng bạc thì phải tặng cho lão tăng một lần nữa.

Vui mừng lắm, về nhà, đúng ngày mà hòa thượng kỳ vọng vua, không thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên-hựu để hỏi tội hòa-thượng. Nhưng trên đường đi, Hài hước đã bị một kẻ tấn công kích thước, té lăn vào bụi cỏ.
Hài túm lấy dây cương tố tố:
– Nhà đi đâu mà có mắt như mù tạt phải ta?
Người cỡi, mình chỉ mặc áo lót, mũ đội sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:
– Xin lỗi lần đầu sinh, tôi đi tìm cha tôi để tạo lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi muốn nhờ tiên sinh một công việc ở đây!

Hài ủi mình:
– Ta học trường Quốc-tử giám, sắp thi Thái-học sinh, thì Bách-gia, Chư-tử, Cửu-lưu, Tam-giáo đều thông. Sao lại chữ không rõ?

Người kích thước tiếp theo:
– Vậy thì tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tội với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc-tử giám sát tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi Thái-học sinh tôi sẽ lấy được đậu tiên nguyên, được chăng?
– Nhà điên à? Nhà đã biết, chỉ có một người cho Thái-học sinh đậu Trạng-Nguyên, đó là vua. Nhà là ai mà nói lớn như vậy?
– Tôi là Vua đây.

Đoàn Nhử Hài nhìn lại mũ người đó, kết quả là vua, hứng thụ xuống đất tạ tội. Người kích thước chính là vua Trần Anh-tông. Nguyên sau khi chiến thắng Mông-cổ, năm 1293 vua Trần Nhân-tông nhường ngôi cho con là vua Trần Anh-Tông rồi đi tu. Vua Anh-Tông thường hay rượu chè say sưa. Nhân một ngày uống rượu Xương-bồ nói quá ngủ, thì Thượng-hoàng từ Thiên-trường về Thăng-long. Các quan trong triều không ai biết cả. Nhân-Tông thông thảnh thơi xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái-giám dâng cơm. Thượng-hoàng không tìm thấy vua đâu hỏi thái-giám. Thái-giám đánh thức vua dậy, nhưng vua nói quá không tỉnh được. Thượng-hoàng quá giận dữ, lệnh cho các quan về Thiên trường, có ý nghĩa Anh-tông. Đến giờ Mùi, Anh-tông mới tỉnh dậy, cung cấp nhân việc ấy tâu. Vua sợ quá không đáp ứng áo, nhảy lên chạy tới chùa Từ-phúc, thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài.

Hai người xuống thuyền về Thiên-field. Đọc đường Đoàn Nhữ Hài làm lá biểu dài hai ngàn chữ tạ tội. Nhưng Thượng-hoàng vẫn còn giận dữ, không cho vào. Hai người phải quỳ ở bên ngoài. Các quan sát mắt nhìn biểu hiện, thấy văn hay, truyền đạt nhau đọc. Thượng-hoàng nghe được hỏi:

– Văn ở đâu mà hay như vậy?

Quan tâu rằng đó là bài biểu hiện tội của vua. Thượng-hoàng truyền:
– Đưa vào đây!

Ý bạn muốn nói rằng bài đưa ra nhưng các bạn có thể hiểu được các bài đưa ra của Vua và Đoàn Nhử Hài vào. Thượng-hoàng đã thấy sự thật rồi, đành tiếp tục xem, thấy lời văn điêu, thống thiết, liền tội cho vua Anh-Tông. Ngài phán rằng:
– Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây thực là may mắn.

Hài chương trình hòa thượng ở chùa Diên-hựu, được hòa thượng kỳ vọng trước sự việc. Thượng-hoàng phán:
– Khoa Tử-vi do Hoàng Bính truyền sang Đại-Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử-vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức Tuệ-Trung Thượng-sĩ đó (tức Trần Quốc Tung).

Hài nghe xong sợ hãi, nghĩ hôm trước dù mình gây rối với hòa thượng thì bị đòn tấn công. By Tuệ-Trung là một võ học danh gia đời Trần. Thượng-hoàng hỏi số của Hài, rồi phán:
– Số của tiên sinh là số của thần thần cấp. Sau đây làm nên sự nghiệp hiển thị. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư Nô, thì thế nào cũng xảy ra một chuyện bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan gãy, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay.

Vua Anh-tông tâu rằng:

– Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử-vi có thể cải cách mạng. Tiểu cầu phụ hoàng có cách nào cứu Đoàn tiên sinh không?

Thượng-hoàng nâu xé từ bìa kinh Kim-cương viết mấy chữ tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Nhữ Hài. Tứ đại giai không là chữ lấy trong kinh Kim-cương: “Vô nhân tướng, Vô ngã tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng, tứ đại giai không”. Nghĩa là không có hình tượng của con người, của ta, của chúng sinh, không có cái gì dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo.. Thượng-hoàng phán:
– Ta xem số thấy cái vại vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn, có thể dùng nó để cứu mạng. Muốn giải cái nạn Hồng, Đào, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng Quyền rồi, phụ với Hóa-quyền đóng chung ở Tham-lang nữa. Muốn giải hạn Thiên-hình thì dùng đến Không-vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim-cương, tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được sinh vật đầu tiên.

Trở về Thăng-long, vua Anh-Tông phong cho Đoàn Nhữ Hài làm Ngự-sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt được gì, mới 20 tuổi được phong làm Ngự-sử trung tán. Người thời đó ghanh ghét làm thơ rồi hài như sau: Phong võ đàm đàm truyền cổ ngữ, Khẩu tồn thúc giục Đoàn trung tán. Có nghĩa là: Ô câu cổ ngữ tại đài Ngự sử. Miệng của Trung-tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa. Ba năm sau hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý gặp Đào, Tham, Quyền, Hồng và Thiên-thương, triều khám phá ra mối tình của Đoàn Nhữ Hài với một cung nữ của vua Anh-Tông. Luật Trọng Trần rất dày đặc với ngoại tình. Thường dân khi ngoại tình xảy ra, gian phu bị tử hình, khiêu dâm phụ tùy chọn chồng hay không. Nay tội xảy ra giữa một đại thần với một cung nữ. Nên cả hai thủ tục thủ tục. May nhờ có thủ bút của Thượng hoàng, viết trên bìa cuốn kinh Kim-cương nên cả hai được miễn tử. Vua Anh- Tông truyền gả cung nữ cho Đoàn Nhữ Hài.
Đoạn trên đây được tóm tắt trong sách Đông-a di sự, phần Đoàn Nhữ Hài cốt truyện.

4.- Tinh hoa khoa Tử-vi đời Trần

Hầu hết những bậc vua chúa, vương hầu nhà Trần đều nghiên cứu Tử-vi, để làm chìa khóa biết kẻ trung, người nịnh, biết vận hạn, mộc đồ đại sự.

Như khi triều đình phân vân không biết nên hòa với Mông-cổ, cho Mông-cổ mượn đường đánh Chiêm-thành, hay nhất định chống lại, vua Thái-tông do dự không quyết, Huệ- Túc phu nhân chấm số cho tất cả vua, hoàng-hậu, vương hầu, tướng sĩ, thấy đa số là những vĩ nhân, làm nên những chuyện kinh thiên động địa. Có một số thảm chết nhưng tiếng tăm vàng.

Phú nhân quyết định: nên đánh. Byđánh thì sẽ thắng, có các vương hầu mới có sự nghiệp vĩ đại như vậy. Một vài người tuy tuẫn quốc thật nhưng danh thơm muôn thuở. Có ai ngờ việc quyết định vận hành số quốc gia như thế mà khoa Tử-vi sử dụng một phần.

Khoa Tử-vi đời Trần cũng dựa theo bộ Tử-vi chính nghĩa, rồi nghiên cứu rộng rãi về cách giải quyết và hỗ trợ.

Tỷ lệ, Tử-vi kinh nói rằng : Thiên-hình, Thất-sát táo táo cô.

Nghĩa là, người có thiên-hình, Thất-sát thủ mệnh thì tính tình nóng bình, cứng rắn quá mà hóa cô độc. Muốn khuyên răn, chế độ giảm táo bạo đó, phải dùng người mệnh có Thái-dương, Thiên-đồng, Thiên-lương, Văn-xương, Văn-khúc, Đào-hoa, Hồng-loan. By các sao này có thể giảm nhiệt độ tĩnh của Hình, Sát. Tuyệt đối không dùng người mệnh có Kiếp, Không, Kình, Đà, Tang, Hổ đã đành mà còn tránh người có Tử-vi, Thiên-phủ, Bởi Tử, Phủ kỵ Hình, Sát. Như muốn phá người mệnh có Tử, Phủ thì dùng người có Kiếp, Không, Kỵ, Hình thủ mệnh. Tử, Phủ thì ngay thẳng, Kiếp, Không thì gian trá, tiểu nhân vậy dùng những thứ bánh lới hạ cấp sẽ làm cho người Tử, Phủ khốn khổv.v….

Khoa Tử-vi còn đi sâu hơn nữa. Như người có cung Phúc tại Thìn được Thái-dương thảo thủ, tức là được hưởng Phúc mái một ông hoặc bố. Muốn người đó, thì dùng cách ếm một ông nội hay cha y, thì y khốn khổ ngay. Lối này trước đây người ta đã dùng để ếm một ông nội nhà văn Phạm Quỳnh, sau đây ếm nhà Ngô. Khi cố gắng Tổng-thống Ngô Đình Diệm còn tại vị, nhiều kẻ thù, sau biết ngôi tổ tổ được cách Long Cung triều thì con trai, con gái, con dâu nghiệp đều đại đại cả. Người ta đã ở ngôi mộ này. Thành ra khi con long bị đau, no dẫy lên, lại một người nam bị nạn, khi con Đổ dẫy lên thì có một người nữ bị nạn. Cái đường ếm này rất thất đức, nên chúng tôi không trình bày chi tiết vào đây.

Tỷ lệ: Nhà Trần đã dùng hương đó để diệt tuyến theo dõi Chế ở Chiêm-Thành. Trần Khắc Chung vì thương yêu Huyền Trân công chúa, mà công chúa được triều đình nhà Trần gả cho Chế Mân, Khắc Chung tìm biết số Tử-vi của Chế Mân, rồi tìm ngôi mộ cung Phúc đức ếm, nên chỉ một năm sau Chế Mân chết.

VII. Khoa Tử-vi các đời sau

Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản nhiệt đi khắp nơi, có người dùng khoa Tử-vi làm kế sinh bột, khoa này đã làm nỏo đó truyền ra khắp dân chúng. Tương truyền Trần Nguyên Hãn, một danh tướng

Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu Trần tản tản đi khắp nơi, có người dùng khoa Tử-vi làm kế sinh bột, khoa này đã làm nện đó truyền ra khắp dân gian. Tương truyền Trần Nguyên Hãn, một danh tướng đã giúp vua Lê Thái-tổ đánh ui quân Minh. Nhưng ông là cháu nội của Trần Nguyên Đán, một vị Tể-tướng cuối đời Trần, nên khi tắm giặc Minh rồi, vua Lê Thái-tổ muốn giết ông. Ông biết ý nói với bạn bè rằng: Ông xem số Lê Thái-tổ là chỉ có thể ở cùng nhau khi hoạn nạn, lúc đại nghiệp thành thì nhà vua sẽ giết công thần. Vì vậy ông báo cáo về ẩn trong dân gian. Tuy vậy nhà vua vẫn sai 42 vệ sĩ nhân về quê bắt ông. Khi đi đường về kinh, ông dùng võ giết các nhân rồi trốn đi (chết thuyền chìm nhân và ông đều chết hết). Ông trốn vào Thanh-hóam mái một kết nối mạch dài của nhà Lê, nên sau khi vua Lê Thái-tổ băng, tiếp theo vua Lê Thái-tông được thượng mã phong mà băng lúc 20 tuổi. Con vua Lê Thái-tông mới hai tuổi lên ngôi vua cũng bị anh là Lê Nghi Dân giết chết.

Một giai thoại nữa diễn ra dưới triều Lê. Khi Lê Thái-Tổ thành đại nghiệp, về quê tế tổ, một ông lão cùng quê hỏi rằng:

– Tôi với bệ hạ sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm, cùng quê, thế sao bệ hạ làm vua, mà tôi vẫn làm dân? Trần Nguyên Hãn đáp:

– Đó là cung Phúc cả. Cung Phúc của Chúa tôi với ông đều có Thiên-đồng thảo thủ tại Hợi. Nhưng nền mả tổ ông lại không để kim mạch dài, ngược lại đá nền của Chúa tôi để kim mạch dài nên được hưởng mệnh trời. By số giống nhau, nên tướng quân với Chúa tôi tương tự. Tôi nghĩ số ông có những phần nào giống Chúa tôi chứ? Ông làm nghề gì?

– Tôi làm nghề nuôi ong, hiện nuôi chín tổ ong.

– Đó tôi nói có sai đâu. Bệ hạ làm Chúa chín châu, thì ông làm Chúa chín tổ ong, tổ ai cũng có vua, có quan, có tướng mà.”

Sau này ông Lê Quý Đôn đi sứ Trung-quốc mua được bộ Tử-vi âm-dương chính nghĩa, Nam-tông tìm về nghiên cứu. Ông có diễn đàn giải ra bằng thơ lục bát khá đầy đủ. Khoa Tử-vi theo Nam-tông truyền vào Việt Nam từ đó.

VIII.-Dị biệt chính, Nam phái

1.- Sự khác biệt về số sao

1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa
Được coi như chính thư. Không nói về số sao. Bài hát trong mục dạy một sao có 93 sao, đó là:
1.1.1. Các tứ.
Tử-vi: 6 sao là Thiên-cơ, Thái-dương, Vũ-khúc, Thiên-đồng, Liêm-trinh.
Thiên-phủ: 8 sao là Thiên-phủ, Thái-âm, Tham-lang, Cự-môn, Thiên-tướng, Thiên-lương, Thất-sát, Phá-quân.
Thái-tuế: 5 sao là Thái-tuế, Tang-môn, Điếu-khách, Bạch-hổ, Quan-phù.
Lộc-tồn: 17 sao là Lộc-tồn, Kình-dương, Đà-la, Quốc-ấn, Đường-phù, Bác-sĩ, Lực-sĩ, Thanh-long, Tiểu-hao, Tướng-quân, Tấu-thư, Phi-liêm, Hỉ-thần, Bệnh-phù, Đại-hao, Phụcbinh, Quân-phủ.
Trường-sinh: 12 sao là Trường-sinh, Mộc-dục, Quan-đới, Lâm-quan, Đế-vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thái Dưỡng.

1.1.2. Các sao an theo tháng: 7 sao Tả-phụ, Hữu-bật, Tam-thai, Bát-tọa, Thiên-hình, Thiên-riêu, Đẩu-quân.
Các sao an theo giờ: 8 sao Văn-xương, Văn-khúc, Ấn-quang, Thiên-quý, Thai-phụ, Phong-cáo, Thiên-không, Địa-kiếp.

1.1.3. Tứ hỗ trợ tinh: 4 sao là Hóa-quyền, Hóa-lộc, Hóa-khoa, Hóa-Kî.

1.1.4. Các sao an theo chi: 17 sao là Long-trì, Phượng-các, thiên-đức, Nguyệt-đức, Hồngloan, Đào-hoa, Thiên-hỉ, Thiên-mã, Hoa-cái, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Hỏatinh, Linh-tinh, Thiên-khốc, Thiên-hư.

1.1.5. Các sao an theo can: 5 sao là Lưu-hà, Thiên-khoi, Thiên-Việt, Tuần-không, Triệtkhông. 1.1.6. Các sao cố định: 4 sao là Thiên-thương, Thiên-sứ, Thiên-la, Địa-võng.

1.2.Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử-vi chính nghĩa.

1.3.Bộ Tử-vi đại toàn
Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hi-Di tiên sinh, kỳ thừa an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn đạo sĩ bị đặt để lừa nhau, còn giả đạo đức, tỏ ra là người bác học, bài bạc qua là phường lưu manh!

1.4.Bộ Tử-vi Đẩu-số toàn thư
Nói về số sao rất mờ. Phần dạy cách một sao có rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào-hoa, Phá-toái, Kiếp-sát, Cô-thần, Quả-tú, Lưu-hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào-hoa, Ân-quang, Thiên-quý vv…

1.5.Bộ Đông-a di sự
thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét các lá số để thử nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác-sĩ, Thiên-la, Địa-võng, Thiên-thương, Thiên-sứ. Có lẽ các Tử-vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần thiết phải vào như sao Bác-sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc-tồn. Sao Thiên-thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên-sứ bao giờ cũng ở cung Tật-ách và sao Thiên-la bao giờ cũng ở cung Thìn cũng như sao Địa-võng bao giờ cũng ở cung Tuất. Trên đây là các bộ thư chính, dưới đây là các bộ thư thư.

1.6.Bộ Tử-vi Giữ-dương chính nghĩa Bắc-tông
Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng giống như chính thư về số sao cũng như cách một sao, song thêm các sao sau đây: Thiên-tài, Thiên-thọ, Thiên-trù, Thiên-y, Thiên-giải, Địa giải, Giải-thần, Thiên-lộc, Lưu-niên văn tinh, Thiên-quan quý nhân, Thiên-phúc quý nhân.

1.7.Bộ Tử-vi âm-dương chính nghĩa Nam-tông
Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như sao Bắc-tông, nhưng thêm 24 sao là Thái-túc, Niên-xá, Thiên-khôi, Nguyệt-khôi, Niên-thổ-khúc, Nguyệt-thổ-khúc, Thiên-thương (Nghĩa là kho lúa khác với Thiên-thương ở cung Nô, như vậy trong lá số có hai sao Thiên-thương). Thiên-phủ-khố, Thiên tiễn, Hồng-diệm, Địa-không, Phù-trầm, Sát-nhận. Vòng Thái-tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiếu-dương, Thiếu-âm, Tử-phù, Tuế-phá, Long-đức, Phúc đức, Trực-phù, Tứ-phi-tinh, Thiên-trượng, Thiên-dị, Mao-đầu, thiên-nhận.

1.8.Bộ Tử-vi thiển thuyết
Gồm 128 sao giống như bộ Nam-tông nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong thiên văn mà chỉ có trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam-cực, Đông-đẩu tinh-quân, Bắc-đẩu tinh-quân, Nam-đẩu tinh-quân, Cửu-thiên huyền nữ, Dao-trì kim stu, Vũ-tinh, Lôi-tinh, Thiên-vương tinh, Địa-tạng tinh, Thái-bạch kim tinh.

1.9.Lịch số Tử-vi toàn thư
Số sao cũng giống như bộ Tử-vi thi thuyết song dạy một sao ngược với các bộ trên. Như sao Trường-sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tî, Hợi mà còn tìm thấy ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử-vixuôi, vòng Thiên-phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.
2.- Sự khác biệt về sao lưu niên

2.1.Chính thư
Các sao lưu niên đều giống nhau, số sao cũng giống nhau:
-Vòng Lộc-tồn với 15 sao không có Quốc-ấn, Đường-phù. (Bộ Tử-vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi)
– Thiên-khoi, Thiên-Việt, Thiên-mã, Thiên-khốc, Thiên-hư và vòng Thái-tuế 5 sao, Vănxương, Văn-khúc. Tất cả 27 sao.

2.2.Tích thư

Nhiều sao như bộ chính thư nhưng bổ sung thêm: Hỏa-huyết, Lan-can, Quân-sách, Quyền thiệt, Bạo-tinh, Thiên-ách, Thiên-cẩu, Huyết-nhận, Huyết-cổ, Ngũ-quỷ và vòng Trường sinh 12 sao.
3.-Sự khác biệt về đại hạn

Chính phái một đại hạn như sau:

– Từ lúc sinh ra tới số địa phương thì đại hạn an tại cung Mệnh.
– Đại hạn thứ nhất sẽ vào cung phụ mẫu, hoặc đệ đệ. Tỷ như: Người Hỏa-lục-cục, thì từ 1 tới 5 tuổi thì đại hạn ở cung Mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung Huỳnh đệ hoặc Phụ-mẫu.

Nam phái lại một ngày đại hạn thứ nhất ở cung Mệnh, rồi đại hạn thứ hai ở cung Phụ mẫu hoặc Huỳnh đệ. Như vậy từ lúc sinh ra tới số tuổi “số địa phương” không có đại hạn.

Điều khác biệt là, đã tạo ra Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để mong cho đúng, nhất là dự đoán thời hạn chết rất quan trọng. Bắc thần kỳ vọng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn. Những điều khác nhau về giới hạn, tạo ra cho Nam phái không sử dụng được kỳ vọng của Hy-Di tiên sinh. By phú mong thì một đại hạn theo Bắc Phong. Những người học theo Nam thường bày tỏ ý nghi ngờ các bài Phú. Họ phải thăm dò, tìm hiểu cách giải quyết vấn đề mới trong thời gian dài. Trong khi những người học theo Bắc phái thì ngay sau khi học một sao, học có thể học cách giải đoán bằng cách xử lý kỳ vọng được.

Hạng Vũ anh hùng ngộ Thiên-không nhi chôn quốc. Thạch Sùng hào phú, vở kịch Địa-kiếp võ vong gia.
Chính mong số Hạng Vũ, căn cứ vào phú kỳ vọng: Nghĩa là Hạng Vũ anh hùng nhưng hạn ngộ Thiên-không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Địa-kiếp nên tan nhà nát cửa.

Theo Bắc phái chỉ có sao Thiên-không, Địa-kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa-không. Sao Thiên-không đóng ở vị trí Địa-không của Nam phái và không có sao Thiên-không trước Thái-tuế một cung. Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa-kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên-không. Đại, tiểu giới, không gặp nhau nên chôn quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền cũng không giải nổi.
Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu dự đoán Nam phái giàu có trên cũng sai:

– Đại hạn đang tới cung Mão, gặp Thái-tuế, mà Thiên-không đóng ở Thìn. Như vậy không có hạng Võ chết về Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương vương quốc. Mà chỉ có việc Hạng Võ tìm hạn Địa-không ở Thân mà thôi. Hồi còn ở Việt Nam, chúng tôi dạy Tử-vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết học mau hơn. Còn lại các vị học theo Nam phái, học thêm mấy cây phú quý nữa, mất công chỉnh cho lại.

Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những tài sản của Hy-Di, mà học các tài sản của Ma-Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu sẽ lộn tùng phèo.
4. Sự khác biệt về sao

Trong 93 tinh đẩu không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này những bộ thư đưa ra những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi một vòng Trường-sinh: Họ khởi Trường-sinh ở cả Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Về an Khôi, Việt thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi: Chính thư Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tràn thư thì cho ở Dần, Ngọ.
Về an tứ hóa: Tuổi Canh cũng bị lộn xộn như Hóa-loc đi với Thái-dương, Hóa-quyền đi với Vũ-khúc, Hóa-khoa đi với Thiên-đồng, Hóa-kî đi với Thái-âm. Trong khi tạp thư Hóa-khoa đi với Thái-âm, trong khi Hóa-kî đi cổng Thiên-đồng.

5. Đối sách Tử-vi hiện tại

Trừ bộ Tử-vi số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch, một vài đoạn đúng với thư chính, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của bất kỳ ảnh hưởng nào của phái nào bên Trung-quốc!

Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức Phật giáo, ông bị tử tử xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông: Rất gần với chính phái.

Ông Vũ Tài Lục là con cụ Kép Nguyễn Huy Chiểu, hiện ở Hoa-kỳ.

Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là đặc-ủy trung giao tình báo VNCH, không biết nay ở đâu, nếu ông còn ở Việt Nam thì có lẽ đã bị giết rồi.

Chúng tôi quan niệm: Dù tất cả Tử-vi gia thuộc phái nào đi nữa cũng cần có kinh nghiệm. Về phương tiện nghề nghiệp, họ phải dùng Tử-vi làm kế sinh thổ là điều bất đắc dĩ, chấp nhận bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải quyết một lá số Tử-vi không tiền nào, bạc nào trả họ nổi cả. Dù không trả tiền cho tinh thần khoa học, họ cũng nói mê nghiên cứu. Chính chúng tôi kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi tìm thấy một lá số kỳ lạ, cũng có cảm giác gì mà không bỏ ra cả ngày để ngâm cho ra nguyên lý.

IX.- Kết luận
Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập không phải là Hy-Di tiên sinh. Ông chỉ là người kết hợp lại các khoa. Chính ông, ông cũng công nhận khoa này có trước ông. Ông chỉ là người bổ sung và đưa nó trở thành một khoa học nổi tiếng. Khoa Tử-vi truyền vào Đại-Việt thời Lý do Trần Tự Mai, hay Hoàng Bính mang vào không cần thiết. Dù Tự Mai hay Hoàng Bính thì Tử-vi cũng thuộc chính phái. Nhưng bí truyền trong dân gian. Đợi đến khi ông Lê Quý Đôn đi sứ Trung-hoa về mang theo bộ Tử-vi của Nam phái, bậc giờ khoa Tử-vi mới được đại chúng hóa. Nhưng chính vì vậy khoa Tử-vi ở Việt Nam có hai trường phái: Một trường chính phái, học rất mau, theo sát Hy-Di tiên sinh. Một trường phái nữa ảnh hưởng đến Nam phái, vì thất bại truyền thành ra không có hệ thống nào cả. Những người nghiên cứu Tử-vi cần phân biệt hai hệ thống, để lúc học mới khỏi bỡ ngỡ. Tuy nhiên không phải những cuốn sách nào của Nam phái cũng thùng tạp, không phải những cuốn sách nào của Nam phái đều mong đợi cả. Tử-vi cũng như y học cần đi đến đối tượng là kết quả, ai mong đợi người đó đạt được học thuật. Cũng như y học, nói, viết không phải là cánh nghiên, mà ai trị khỏi bệnh, người đó có lý. Một vấn đề trước mắt của chúng ta là, làm sao có đủ sách cho các nghiên cứu tìm hiểu. Sách của cổ nhân chỉ là nền tảng ban đầu.

Tại sao xưa kia Hy-Di tiên sinh đã tìm được nhiều nguyên lý Tử-vi, ngày nay chúng ta không thể đi sâu hơn tìm ra những nguyên lý khác. Cái xe hơi thế kỷ thứ 18 nguyên sơ, người sau cải tiến dần, nay trở thành thành những xe tối tân. Tử-vi là khoa học, chúng tôi có thể tìm kiếm thêm, nghiên cứu rộng rãi, để đưa ra những phát hiện mới. Bấy giờ mới đi tìm vận động số con người, lại có thể đi xa hơn, phát triển phát triển cách, hỗ trợ cách, một lối phát huy độc giáp đời Trần, cần được đào sâu để đạt được mục tiêu khoa học tuyệt vời.

III.- Khoa Tử-vi đời Tống
Tống Thái-tổ được truyền khoa Tử-vi bằng bộ Tử-vi chính nghĩa, giữ công việc riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách được lưu truyền duy nhất trong hoàng cung để biết kẻ trung, người nịnh, để biết vận động số kế đồ đại sự. Tất cả quá trình nghiên cứu của hoàng tộc nhà Tống, sau đó được biên soạn thành sách gọi là Ngự giám sát-vi. Nhưng khi nhà Tống mất, thì con cháu nhà Tống dùng bộ sách này làm kế sinh bát, nên không tranh dùng tên cũ nữa, mà đổi là Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh. So sánh giữa bộ Tử-vi chính nghĩa và bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh, thì bộ thứ nhất cố tính chất lý thuyết đaị cương, như những định luật. Bộ thứ nhì có tính chất thực nghiệm, thu thập kinh nghiệm hàng trăm năm nghiên cứu lại. Như bộ thứ nhất không đến được bàn làm việc :

– Hai người sinh cùng ngày, giờ, tháng, năm, nhưng lá số khác nhau. Bộ thứ hai đi vào chi tiết này rất kỹ năng.
– Số người sinh đôi. Trong khi thứ nhì nghiên cứu đến mấy trăm cặp sinh đôi.
– Số người chết tập thể. Như chết chìm đò, chết trong chiến tranh. Bộ thứ nhì lại nghiên cứu kỹ năng hơn, đưa ra giải pháp vv…

Sau đây chúng tôi trình bày một giai thoại về Tử-vi đời Tống, mà hầu như ai cũng biết, và sử Trung-quốc cũng chép :
Khi còn cầm quân tranh thiên hạ, Tống Thái-Tổ có người kết nghĩa tên là Trịnh Ân. Ân là một võ tướng dũng, tài ba, vợ Ân là Đào Tam Xuân cũng là một nữ tướng.
Cả hai đã giúp cho Thái-tổ thành nghiệp lớn. Thái-tổ phong cho Trịnh Ân vương vương và thay vua trấn thủ ngoài biên trấn. Nhân đầu năm Thái-tổ xem số các tướng sĩ, văn Võ Quần thần, thấy số Trịnh Ân là Tướng-quân, Thiên-tướng thủ mệnh đại hạn gặp Kình-dương, tiểu hạn Thiên-hình. Lưu Thái-tuế tìm Kiếp, Kị mới nói với quần thần rằng :

– Trịnh Ân làm hai ông tướng thủ mệnh. Tướng sợ nhất kiếm và đao, không sợ Hỏa, Linh, Kiếp, Không. Nay đại hạn ngộ Kình là dao, tiểu hạn ngộ Hình là kiếm. Ta e rằng Ân sẽ bị chém mất đầu. Đã vậy lưu niên Thái-tuế gặp Kiếp, Kị thì sẽ làm kẻ tiểu nhân tim hại. Hơn nữa Kiếp, Kị lại ngộ Hồng, Đào, thì kẻ nguy Trinh Ân sẽ là đàn bà. Triều đình đề nghị gọi Trịnh Ân về triều để được bảo vệ. Bấy giờ Trinh Ân trấn thủ ngoài xa, nghe lệnh triệu hồi về kinh thì đi theo. Khi đến kinh nghiệm tìm thấy một toán quân hầu hộ vệ kiệu vua, tiền hô hậu hỗ trợ. Ân tưởng Thái-tổ, thở xuống ngựa phủ bên đường tung hô vạn tuế. Nhưng khi ngửng đầu lên không phải là vua, mà là cha của một Phi-tần được Thái-tổ ái ái. Chức tước, địa vị của Trịnh Ân cao hơn nhiều, mà phải lạy phục xuống đất thì xúc quá. Trinh Ân nổi lên cuồng nhiệt Quốc-cữu xuống đất chiến đấu cho một trận đấu kiếm nghi Thiên-tử. Vị Quốc-cửu bị đòn nhừ tử, về nhà báo cho con gái biết, khóc lóc đòi trả thù. Vị phi thấy cha bị đòn đau, trở vào cung rượu cho Thái-tổ nói mèm, rồi dâng biểu nói Trịnh Ân làm phản đập phá nghi trượng Thiên-tử. Tống thái-tổ say quá không chủ được, phê vào chữ Trảm. Thế là Trịnh Ân bị mang ra chém đầu. Khi Thái-tổ tỉnh rượu được triều đình tự sự thì chỉ còn biết bưng mặt tò mò lớn.

Đào Tam Xuân thay chồng trấn ngoài ải, thấy chồng bị thác oan, Tam Xuân truyền quân sĩ để tang, kéo quân về triều hỏi kiện. Các tướng phần bất mãn với việc Thái-tổ sát thủ Trịnh Ân, nên không quyết tâm chiến đấu, hơn nữa không nổi Tam Xuân nên chạy. Tam Xuân sung mãn kinh thành rất gấp. Triều đình tâu giết thứ phi, giết cả nhà quốc cứu cứu tội với Tam Xuân. Nhưng Tâm Xuân vẫn không lui binh. Tình hình nguy ngập, Triệu Quang Nghĩa tâu với Tống Thái-tổ (Quang Nghĩa là em Tống Thái-tổ, sau được truyền ngôi vua):

– Thần xem số Tam Xuân thấy Vũ-khúc, Phá-quân thủ mệnh. Vũ-khúc thì hay giận dữ, Phá-quân thì nhẹ dạ. Tử-vi kinh nói rằng: Chỉ có Lộc-tồn chế được tính ác của Vũ-khúc, Thiên-lương chế được tính điên của Phá-quân. Vậy ở đây có vị văn thần nào Thiên-lương, Lộc-tồn thủ mệnh, đề nghị có thể thuyết phục được Tam Xuân.

Thái-tổ chuẩn bộ, tìm ngay ra vị trí văn thần có tên Cao Hoài Đức có cách trên, sai ra ngoài thành, thuyết phục Tam Xuân. Quả nhiên Tam Xuân lui binh. Từ đấy trong suốt đời nhà Tống, con cháu họ Trịnh được nối tiếp nhau phong tước.

Như vậy thì Triệu Quang Nghĩa đã học tới trình độ khá ác độc Tử-vi, nên dùng cách đột hào của Tam Xuân và hỗ trợ cách giúp Thái-tổ. nghiên cứu lá số của Thái-tổ Nghiên cứu, năm đó đại hạn ngộ Kỵ, tiểu hạn đi vào cung nô, gặp Thiên-thương, Kiếp. Còn Thiên thương gặp Kiếp, Không thường xuyên là hạn bị hàm oan nguy đến tính mệnh. Chính Khổng-tử bị hạn chế này, bị vây tại nước Trần, hút chết đói. Các số của Cao Hoài Đức, ngoài Thiên-lương, Lộc-tồn thủ mệnh, đại hạn ngộ Quyền, Khốc, Hư, Xương, Lương, Lộc chỉ chế được Tam Xuân. Nhưng chính Quyền, Khốc, Hư nói Tam Xuân nghe theo, và Văn-xương là sao giải hạn Địa-kiếp vậy.

SƯU TẦM 

Tìm kiếm tin bất động sản
Nhà đất bán theo Tỉnh/Thành
Nhà đất cho thuê theo Tỉnh/Thành